Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013

No Comment
1/ Phương pháp Delphi là gì?
Phương pháp Delphi là một kỹ thuật hỗ trợ quá trình thảo luận nhóm để đưa ra giải pháp cho một vấn đề cụ thể. Cụ thể hơn, Phương pháp Delphi là một quá trình thảo luận có bài bản để nhóm các chuyên gia tích lũy thông tin và thể hiện tri thức. Thực tế cho thấy, tri thức được thu thập qua các bảng câu hỏi và tri thức của các chuyên gia trong nhóm không bao giờ có điểm chung. Do đó, quá trình thảo luận nhóm và kết quả cuối cùng của nó không bao giờ “đi theo người dẫn đầu” và thường gây trở ngại cho chất lượng của ý kiến chung trong quá trình thảo luận trực tiếp. Phương pháp Delphi dựa trên triết lý “Điều tra biện chứng”, nghĩa là quá trình thảo luận nhóm đi từ chính đề (đưa ra một ý kiến). Hay nói cách khác, Phương pháp Delphi dùng các mâu thuẫn nảy sinh giữa các ý kiến trái ngược trong quá trình thảo luận nhóm, tập trung quanh vấn đề cụ thể để tìm ra giải pháp mới.
Chúng ta có thể tóm tắt sự ứng dụng thực tế của Phương pháp Delphi thành 10 bước sau:
  • Thứ nhất: xây dựng một nhóm Delphi để thành lập và giám sát kế hoạch.
  • Thứ hai: nhóm Delphi phải tìm ra một đội ngũ chuyên gia tham gia vào quá trình dự đoán.
  • Thứ ba: nhóm Delphi đưa ra một bảng câu hỏi.
  • Thứ tư: nhóm Delphi phải kiểm tra mọi từ ngữ trong bảng câu hỏi để đảm bảo rằng nó không gây mơ hồ.
  • Thứ năm: phân phối bảng câu hỏi đến từng chuyên gia trong nhóm.
  • Thứ sau: phân tích và đưa ra các phân phối về bảng câu hỏi.
  • Thứ bảy: nhóm Delphi đưa ra một bảng câu hỏi mới, mục đích của bảng câu hỏi mới này là hướng đội ngũ chuyên gia tiến gần hơn đến sự đồng thuận.
  • Thứ tám: đưa bảng câu hỏi mới cho các chuyên gia.
  • Thứ chín: phân tích các đáp án mới và tiếp tục phát triển các bảng câu hỏi mới cho đến khi đạt được một kết quả ổn định.
  • Thứ mười: nhóm Delphi chuẩn bị một bản báo cáo tóm tắt lại những nội dung chính trong suốt quá trình.
2/ Khi nào sử dụng phương pháp Delphi?
Phương pháp Delphi đặc biệt phát huy tác dụng trong việc dự đoán những vấn đề cụ thể trong tương lai. Trong những năm gần đây, Phương pháp Delphi được sử dụng phổ biến trong các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực sức khỏe cộng đồng và giáo dục. Ngoài ra, ứng dụng của Phương pháp Delphi là tạo điều kiện để đạt đến sự đồng thuận nhóm và giúp tạo ra những ý tưởng sáng tạo.
3/ Ví dụ: Trường hợp nghiên cứu ứng dụng của Phương pháp Delphi
Năm 1994, Institut de médecine social et préventive (IDMSEP) thành phố Lausanne, Thụy Sĩ đã ứng dụng Phương pháp Delphi để khảo sát và nhận biết những dấu chỉ liên quan đến việc cho ra đời vắc xin chữa bệnh AIDS đầu tiên của đất nước này. Nhóm Delphi của IDMSEP đã tuyển chọn đội ngũ gồm 30 chuyên gia có kiến thức sâu rộng và quan tâm đến lĩnh vực này. Các ý kiến của mỗi chuyên gia đều được nặc danh, do đó, tất cả đều không có điểm chung.
Nhóm Delphi của IDMSEP tạo ra ba vòng câu hỏi khác nhau trước khi đưa ra bản báo cáo cuối cùng trên vấn đề được thảo luận. Các chuyên gia phải trả lời ba câu hỏi định tính. Thứ nhất, họ phải liệt kê những mục tiêu cho rằng cần phải đạt được trong năm đầu tiên ứng dụng vắc xin AIDS tại Thụy Sỹ. Thứ hai, họ phải đánh giá liệu các đề xuất đã đưa ra, tập trung vào việc phát triển một chiến lược vì sức khỏe cộng đồng và vắc xin chủng ngừa AIDS, có thể chấp nhận được và có khả thi không. Thứ ba, họ phải ước đoán các nhóm người khác nhau có thể sử dụng vắc xin AIDS như thế nào.
Nhờ áp dụng Phương pháp Delphi, IDMSEP đã đạt được hai kết quả đáng kể. Thứ nhất, họ có được nhiều chiến lược và kế hoạch thực hiện cho chiến dịch phòng chống AIDS. Thứ hai, góp phần đáng kể trong việc hỗ trợ thành lập một chiến lược vắc xin chủng ngừa AIDS trong tương lai.
4/ Lịch sử: Ai là cha đẻ của Phương pháp Delphi?
Phương pháp Delphi do Quân đội Hoa Kỳ tạo ra vào thập niên 50. Tướng Henry Harley Arnold nhận thấy nhu cầu phát triển một kỹ thuật để dự đóan những khả năng công nghệ trong tương lai với mục đích phục vụ lợi ích của Quân đội Hoa Kỳ. Là người khởi xướng và là người thúc đẩy chính, năm 1946, Tướng Arnold đã hỗ trợ thành lập dự án Nghiên cứu và Phát triển RAND. Trong suốt thập niên 50 và 60, các nghiên cứu của dự án RAND đã góp phần tạo nên Phương pháp Delphi. Hiện nay, ba nhà nghiên cứu được công nhận là “cha đẻ” của phương pháp này là: Olaf Helmer, T.J.Gordon và Norman Dalkey.
Bối cảnh lịch sử của Phương pháp Delphi
Trong Thế chiến thứ hai (1939 – 1945) và Chiến tranh Lạnh suốt thập niên 50 và 60, Hoa Kỳ là một trong những nước chịu ảnh hưởng sâu rộng nhất. Do đó, trong những năm đầu áp dụng Phương pháp Delphi, Hoa Kỳ phải đối mặt với nguy cơ lớn về quân sự, có thể dẫn chứng những sự kiện sau: Chiến tranh Việt Nam (1945 – 1975), Chiến tranh Đại Hàn Dân quốc (1950 – 1953), và Cuộc khủng hoảng Cuba (1962). Đặc điểm của Chiến tranh Lạnh chính là cuộc chạy đua vũ trang giữa Hoa Kỳ và Liên bang Xô Viết. Do đó, cả hai siêu cường quốc này cùng chạy đua tìm kiếm sự đổi mới, trong đó có những đổi mới công nghệ ý nghĩa như Echo 1 của NASA, vệ tinh viễn thông đầu tiên trên thế giới (1960).
Cuối cùng, từ quan điểm phân tích. Quân đội Hoa Kỳ đã phát triển một phương pháp để cải thiện quá trình dự đoán công nghệ. Nói tóm lại, Hoa Kỳ luôn bị áp lực năng nền là phải liên tục đón đầu trong cuộc chơi để giành lấy thế thượng phong trong việc phát triển những công nghệ phòng thủ hiện đại. Đây không chỉ là vấn đề về nguy cơ quân sự mà còn là sức ép chính trị khi Hoa Kỳ luôn cạnh tranh vị trí siêu cường quốc lớn nhất thế giới với Liên bang Xô Viết.
Điều đáng nói nữa là trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh phong trào phản văn hóa xuất hiện trong giới trẻ Mỹ. Phong trào phản văn hóa xuất phát từ nỗi kinh hoàng của Chiến tranh Việt Nam và lòng yêu chuộng hòa bình của một thế hệ. Bằng cách biện pháp bảo vệ và chống chiến tranh, cả một thế hệ thanh niên của Mỹ đã lên tiếng vì hòa bình và đấu tranh làm thay đổi bộ mặt xã hội Hoa Kỳ. Cùng với phong trào phản văn hóa, các dòng nhạc mới như rock và âm nhạc dân gian xuất hiện như một cách thể hiện quan điểm cấp tiến và sự chống đối trên tình thần vì hòa bình.

Nguồn tham khảo: Koenraad Tommissen – Tư vấn quản lý một quan điểm mới – NXB TH TPHCM 2008.
 
HIỆN FOOTER