Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

No Comment
Khổng Tử khoảng năm 450 trước Công nguyên: “Nói với ta, ta sẽ quên. Chỉ cho ta thấy, ta có thể nhớ. Cho ta tham gia, ta sẽ hiểu”.
1/ Tiểu sử
David A.Kolb là giáo sư khoa Hành vi tổ chức của Trường quản trị Weatherhead, Đại học Case Western Reserve. Ngoài ra, ông là nhà sáng lập kiêm chủ tịch công ty Phương pháp học tập dựa trên kinh nghiệm.
Ông là tác giả của cuốn sách Học qua trải nghiệm: Kinh nghiệm là nguồn học hỏi và phát triển, và là cha để của cuốn sách Danh mục cách học. Các công trình nghiên cứu khác là: Học qua đàm thoại: cách tiếp cận theo kinh nghiệm để phát triển tri thức, Sự đổi mới trong giáo dục chuyên nghiệp: Các bước của quá trình từ dạy đến học, Hành vi tổ chức: cách tiếp cận dựa vào kinh nghiệm, và vô số bài báo về lĩnh vực học qua trải nghiệm. Ông đã nhận được bốn bằng danh dự công nhận sự cống hiến hết mình trong lĩnh vực nghiên cứu các cách học.
2/ Chu kỳ học hỏi/Chu kỳ huấn luyện là gì?
hinh 1
Từ mô hình trên, chúng ta thấy có bốn giai đoạn, và mỗi giai đoạn đều phát triển theo sau giai đoạn kế tiếp. Quá trình Quan sát phản ánh hành động và suy nghĩ theo sau Kinh nghiệm cụ thể của mỗi cá nhân. Điều này có thể bắt nguồn từ những quy tắc mô tả kinh nghiệm chung hoặc sự áp dụng của các học thuyết đã biết (Khái niệm trừu tượng), và sau đó tạo ra những cách thử nghiệm để chuyển sang giai đoạn kế tiếp (Thử nghiệm chủ động), và tiếp tục quay lại Kinh nghiệm cụ thể. Chu kỳ này có thể diễn ra trong chốc lát, hay vài ngày, vài tuần, vài tháng, tùy thuộc vào chủ đề và đôi khi các giai đoạn có thể diễn ra cùng một lúc.
HỌC QUA TRẢI NGHIỆM
Honey & Mumford: Bốn kiểu học
hinh 2
Honey và Mumford (1982) đã tạo ra bốn cách học như trên tương ứng với bốn giai đoạn học của Kolb. Về vấn đề này, Kolb cũng có một công cụ thử nghiệm đó là Danh mục cách học, và công cụ này còn nghiên cứu xa hơn đó là liên quan tới quá trình hình thành các dạng tri thức.
HAI CÁCH BIẾT
Kinh nghiệm cụ thể cũng có thể hiểu là “kinh nghiệm có được nhờ quen thuộc”, là kinh nghiệm thực tế trực tiếp. (Theo văn phong của Kolb là “Sự lĩnh hội”).
Khái niệm trừu tượng cũng có thể hiểu là “kiến thức về” điều gì đó không thực tế (Theo văn phong của Kolb là “Sự nhận thức”).
hoc tap 3
Quan sát phản ánh tập trung trên kinh nghiệm có ý nghĩa với người trải qua kinh nghiệm đó, hoặc các ý nghĩa của nó.
Thử nghiệm chủ động biến đổi thuyết Khái niệm trừu tượng bằng cách thử nghiệm trong thực tế có liên quan đến những biểu hiện của nó.
hoc tap 4
CÁC DẠNG TRI THỨC VÀ CHU KỲ HỌC HỎI
Theo quan điểm của Kolb, bốn giai đoạn của một chu kỳ nói trên tương ứng với bốn dạng tri thức khác nhau. Trong đó, có hai cặp tri thức đi đôi với nhau nhưng trái ngược nhau thể hiện bằng đường chéo.
hoc tap 5
TƯ DUY HỘI TỤ
- khoa học và công nghệ (?)
hinh 1a
TƯ DUY PHÂN KỲ
hinh 2a
ĐỒNG HÓA; TỪ THỰC TẾ ĐẾN LÝ THUYẾT
Đơn giản hóa những mục tiêu bên ngoài quen thuộc nhưng phức tạp tương xứng với những gì đã hiện hữu trong trí nhớ.
hinh 3a
THÍCH NGHI: TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TẾ
Bạn phải thay đổi các suy nghĩ trong đầu để phù hợp với những mục tiêu thực tế bên ngoài.
hinh 4a
Cách học có nghĩa là:
Ở cấp độ thấp đòi hỏi nhu cầu điều chỉnh cho phù hợp giữa người học và người dạy: đôi khi những ưu tiên của họ là bổ sung hoặc phản kháng, và dĩ nhiên đôi khi là kết hợp nếu cả hai có chiều hướng phát triển trong cùng một giai đoạn trong chu kỳ.
Ở cấp độ cao, việc bỏ qua một vài giai đoạn có thể gây trở ngại lớn cho quá trình học.
hinh 5a
Qua việc nhận biết được cách học của người khác (và của chính mình), bạn có thể định hướng một phương pháp học phù hợp với cách học đó. Ở một chừng mực nào đó, mỗi người đều cần có tác nhân kích thích đối với cả bốn cách học trên. Đây là vấn đề về việc nhấn mạnh cách học nào phù hợp nhất trong từng hoàn cảnh cụ thể và việc lựa chọn cách học của từng người.
Sau đây là tóm tắt về bốn cách học của Kolb:
  • Phân kỳ (cảm nhận và quan sát – CE/RO): Những người với cách học này có thể nhìn mọi việc ở những góc độ khác nhau. Họ là những người nhạy cảm. Họ thích quan sát hơn thực hiện, có chiều hướng thu thập thông tin và dùng trí tưởng tượng để giải quyết vấn đề. Họ có khả năng quan sát tốt nhất những tình huống cụ thể với những quan điểm khác nhau. Kolb gọi đây là kiểu “Phân kỳ” vì những người này phát huy khả năng hiệu quả trong những tình huống cần đưa ra các ý tưởng. Những người với cách học phân kỳ đều có kiến thức về văn hóa sâu rộng và thích thu thập thông tin. Họ yêu con người, giàu trí tưởng tượng, nhiều tình cảm, và thiên về nghệ thuật. Hơn nữa, họ thích làm việc theo nhóm để có thể lắng nghe người khác với một quan điểm cởi mở và để nhận được các phản hồi cá nhân.
  • Đồng hóa (tư duy và quan sát – AC/RO): Những người với cách học này thiên về cách nhìn nhận vấn đề có khoa học và súc tích. Đối với họ, các ý tưởng và khái niệm thì quan trọng hơn con người. Những người này cần một sự giải thích rõ ràng hơn là một cơ hội thực tế. Họ có khả năng nắm vững thông tin ở diện rộng và sắp xếp chúng theo một lối tư duy có khoa học. Những người với cách học Đồng hóa này ít chú trọng vào con người và dành ưu tiên cho những ý tưởng và khái niệm trừu tượng. Họ thiên về những học thuyết sâu rộng hợp lý hơn là những cách tiếp cận dựa trên các giá trị thực tế. Đây là những người cần thiết để thu thập thông tin hiệu quả và là những người phù hợp với nghề nghiên cứu khoa học. Họ thích đọc, diễn thuyết, khám phá những mô hình phân tích và dành thời gian để tư duy mọi việc.
  • Hội tụ (tư duy và thực hiện – AC/AE): Những người với cách học này có thể giải quyết vấn đề và dùng cách học của mình để tìm giải pháp cho những vấn đề thực tế. Họ thiên về những công việc kỹ thuật và các vấn đề, ít quan tâm đến con người, các vấn đề về cá nhân và các vấn đề xã hội. Những người với cách học Hội tụ này có khả năng tìm kiếm những cách ứng dụng thực tế cho các ý tưởng và lý thuyết. Họ có thể giải quyết vấn đề và đưa ra quyết định qua việc tìm kiếm giải pháp cho những vấn đề đó. Họ có thể là các chuyên gia hoặc những người có khả năng về kỹ thuật. Họ thích thử nghiệm những ý tưởng mới và tiến hành những ứng dụng thực tế.
  • Thích nghi (cảm nhận và thực hiện – CE/AE): Những người với cách học này dựa trên trực giác hơn là sự phân tích có khoa học. Họ áp dụng các phân tích của người khác và thực hiện cách tiếp cận thực tế và thử nghiệm. Họ bị thu hút vào những thử thách, kinh nghiệm mới và hoạch định kế hoạch. Họ có xu hướng dựa trên thông tin của người khác hơn là thực hiện theo cách phân tích của chính mình. Những người với kiểu học Thích nghi này đảm nhận tốt những vai trò đòi hỏi hành động và đưa ra các sáng kiến. Họ thích làm việc theo nhóm để hoàn thành công việc. Họ chủ động xác định các mục tiêu và công việc theo các cách khác nhau để đạt được mục tiêu.
Các ví dụ và ứng dụng thực tế:
  • Những gnười trong các lĩnh vực cần sự sáng tạo như nghệ thuật thiên về cách học Phân kỳ.
  • Các nhà khoa học và toán học thiên về cách học Đồng hóa.
  • Các nhà khoa học ứng dụng và luật sư thiên về cách học Hội tụ.
  • Các chuyên gia hành động theo trực giác như giáo viên thiên về cách học Thích nghi.
TH: T.Giang – SCDRC
Nguồn tham khảo: Koenraad Tommissen – Tư vấn quản lý một quan điểm mới – NXB TH TPHCM 2008.
 
HIỆN FOOTER