Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

No Comment
Dẫn nhập

Sự đóng góp quan trọng nhất và thực sự độc đáo của lĩnh vực quản lý trong thế kỷ XX là việc tăng năng suất LAO ĐỘNG CHÂN TAY trong sản xuất lên 50 lần.
Tương tự như vậy sự đóng góp quan trọng nhất của lĩnh vực quản lý cần làm được trong thế kỷ XXI sẽ là việc nâng cao năng suất lao động các CÔNG VIỆC TRI THỨC và năng suất lao động của NGƯỜI LAO ĐỘNG TRI THỨC.
Tài sản có giá trị nhất của một công ty ở thế kỷ XX là thiết bị sản xuất. Còn tài sản có giá trị nhất của một tổ chức ở thế kỷ XXI, bất kể là kinh doanh hay phi kinh doanh, sẽ là người lao động tri thức và năng suất lao động của họ.
1/ Năng suất lao động chân tay
THỨ NHẤT: Thử xem hiện chúng ta đang ở chỗ nào.
Chỉ mới có hơn một trăm năm nay thôi kể từ khi lần đầu tiên có một người có học thức thực sự quan tâm đến công việc lao động chân tay và người lao động chân tay và bắt đầu nghiên cứu cả hai lĩnh vực này. Các nhà thơ vĩ đại như Hesiod của Hy Lạp (thế kỷ thứ VI trước Công nguyên) và 500 năm sau đó là Virgil của La Mã (vào cuối thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên) đã ca ngợi công việc đồng áng của nông dân. Những tác phẩm của họ vẫn là những áng thơ hay nhất bằng bất kỳ ngôn ngữ nào. Thế nhưng chẳng có bài thơ nào nói về lao động đồng áng lẫn người nông dân lại giống với thực tế cuộc sống của họ. Cả Hesiod lẫn Virgil chưa một lần trong đời cầm đến chiếc liềm để gặt hái, chưa bao giờ chăn cừu, hoặc thấm chí chưa bao giờ quan sát người nông dân làm những việc đó. Và 1900 năm sau thời đại của Virgil, đến lượt Karl Marx (1818 – 1883) viết về lao động chân tay và công nhân lao động chân tay, thì ông cũng chưa bao giờ quan sát họ và cũng chưa bao giờ chạm tay đến các máy móc. Người đầu tiên vừa trực tiếp lao động chân tay như công nhân và vừa làm nghiên cứu về lao động chân tay chính là Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915).
Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử – và nói đúng hơn là cả trước khi lịch sử được ghi chép trong các sử sách – đã có sự tiến bộ không ngừng của cái mà ngày nay chúng ta gọi là “năng suất lao động” (thuật ngữ này chỉ mới tồn tại khoảng 50 năm). Thế nhưng đó lại là kết quả của những công cụ mới, phương pháp mới và công nghệ mới. Thế nhưng đó lại là kết quả của những công cụ mới, phương pháp mới và công nghệ mới. Đó là sự tiến bộ trong lĩnh vực mà các nhà kinh tế gọi là “Tư bản”. Thế nhưng trong suốt quá trình lịch sử đó lại có rất ít sự tiến bộ trong lĩnh vực mà các nhà kinh tế gọi là “Lao động”, tức năng suất lao động của người công nhân. Điều hiển nhiên trong suốt lịch sử là người công nhân muốn sản xuất được nhiều hơn thì chỉ có cách là phải làm việc cật lực hơn hoặc kéo dài thời gian làm việc nhiều hơn. Có rất nhiều điều mà các nhà kinh tế ở thế kỷ XIX không nhất trí với nhau, cũng như các nhà kinh tế hiện nay. Nhưng họ đều nhất trí với nhau, từ thời David Ricardo (1772 – 1823) cho đến Karl Marx, rằng có sự khác biệt rất lớn về trình độ tay nghề giữa các công nhân, chứ không có gì khác nhau đứng về năng suất lao động, trừ sự khác nhau giữa công nhân chăm chỉ và công nhân lười biếng, hoặc giữa công nhân sức khỏe tốt và công nhân sức khỏe yếu. Lúc đó khái niệm năng suất lao động chưa tồn tại. Năng suất lao động vẫn chỉ được coi là “yếu tố ngoại lai”, không phải là một thành phần trong phương trình của hầu hết học thuyết kinh tế đương thời, như học thuyết của Keynes và Trường phái kinh tế Áo.
Chỉ trong một thập kỷ sau khi Taylor lần đầu tiên quan sát và nghiên cứu các động tác lao động, thì năng suất lao động chân tay mới bắt đầu tăng lên đều đặn với tốc độ 3,5% trong một năm, nghĩa là tăng lên 50 lần kể từ thời Taylor. Tất cả thành quả về kinh tế và xã hội ở thế kỷ XX đều dựa trên cơ sở thành tưu này. Năng suất lao động chân tay đã tạo ra cái mà ngày nay chúng ta gọi là các nền kinh tế “phát triển”. Trước thời Taylor không hề tồn tại khái niệm này, vì mọi nền kinh tế đều “chưa phát triển” như nhau. Ngày nay một nền kinh tế chưa phát triển – hay thậm chí nền kinh tế mới trỗi dậy – là nền kinh tế không làm được – hoặc ít ra chưa làm được – việc nâng cao năng suất lao động chân tay.
Các nguyên tắc của năng suất lao động chân tay
Những nguyên tắc của Taylor xem ra đơn giản đến mức khó tin.
Bước đầu tiên để làm cho lao động chân tay có năng suất là xem xét kỹ từng công việc và phân tích các động tác cấu thành của nó. Bước tiếp theo là ghi chép lại từng động tác, cả công sức bỏ ra và thời gian đòi hỏi để thực hiện. Tiếp đến là loại bỏ các động tác thừa: mỗi khi quan sát công việc chân tay, chúng ta sẽ phát hiện thấy có rất nhiều động tác mà từ lâu được coi là hay nhưng thực tế lại là thừa, không làm lợi cái gì cả. Sau đó mỗi động tác cần thiết để tạo ra thành phẩm cuối cùng được xếp đặt lại sao cho việc thực hiện đơn giản nhất, dễ dàng nhất, ít tốn công sức nhất và đòi hỏi thời gian thực hiện ngắn nhất. Tiếp theo các động tác này được ghép lại với nhau thành một “công đoạn” theo một trình tự lôgích. Cuối cùng là thiết kế lại các công cụ để thực hiện từng động tác. Và mỗi khi chúng ta xem xét bất cứ công đoạn nào, dù công đoạn đó đã từng tồn tại hàng ngàn năm, chúng ta đều phát hiện thấy các công cụ đã sử dụng từ lâu đời hoàn toàn không phù hợp cho việc thực hiện công việc đó. Điều này rất đúng, chẳng hạn như trường hợp mà Taylor đã phát hiện đối với chiếc xẻng dùng để xúc cát trong xưởng đúc, công đoạn đầu tiên mà ông ta đã nghiên cứu. Đó là chiếc xẻng có hình dáng không đúng, kích thước không đúng và tay cầm không đúng. Chúng ta cũng đã nhận ra điều tương tự như vậy đối với các dụng cụ y khoa cổ điển của các bác sĩ phẫu thuật.
Các nguyên tắc của Taylor xem ra rất hiển nhiên – mọi phương pháp có hiệu quả đều như thế. Thế nhưng Taylor đã phải mất 20 năm mày mò mới tìm ra.
Trong hơn một trăm năm qua đã có biết bao nhiêu những sự thay đổi, điều chỉnh và hoàn thiện đối với các phương pháp này, kể cả tên gọi của nó. Chính Taylor lúc đầu gọi tên phương pháp của mình là “Sự phân tích công đoạn làm việc” hay “Quản lý công đoạn làm việc”. Hai mươi năm sau đó nó được đổi tên thành “Quản lý theo khoa học”. Tiếp theo đó 20 năm nữa, sau Thế chiến thứ I, nó lại được đổi tên thành “Quy trình công nghiệp” ở các nước như Mỹ, Anh và Nhật Bản. Còn ở Đức lại gọi là “Sự hợp lý hóa”.
Việc công bố rằng phương pháp của ai đó “bác bỏ” hoặc “thay thế” phương pháp của Taylor hầu như là một cách “giao tế công cộng” chuẩn mực. Bởi vì chính những điều làm cho Taylor và phương pháp của ông có sức mạnh cũng đồng thời làm cho ông ta bị căm ghét. Những điều mà Taylor nhìn nhận về lao động là trái ngược so với những gì mà các nhà thơ và triết học từ Hesiod và Virgil cho tới Karl Marx mô tả về lao động. Họ đều đề cao đó là “kỹ năng”. Nhưng Taylor lại cho rằng đối với lao động chân tay thì không có kỹ năng gì cả, mà chỉ là các động tác đơn giản, lặp đi lặp lại. Còn cái làm cho lao động chân tay có năng suất chính là tri thức, tức cách thức làm cho các động tác đơn giản, không có kỹ năng được ghép lại với nhau, được sắp xếp và thực hiện công việc một cách hợp lý. Thực tế, Taylor chính là người đầu tiên biết áp dụng tri thức vào công việc.
Điều này cũng làm cho Taylor trở thành kẻ thù không đội trời chung của các tổ chức công đoàn cùng thời ông ta, đó là các tổ chức công đoàn các nghề nghiệp thủ công, dựa vào bí mật của các kỹ năng thủ công và sự độc quyền bí mật này của họ. Hơn thế nữa, Taylor còn đề xướng nguyên tắc, mà đến nay vẫn bị một số công đoàn lao động nguyền rủa, đó là việc trả lương công nhân phải căn cứ vào năng suất lao động, tức theo đầu ra, chứ không phải theo đầu vào chẳng hạn như giờ làm việc. Thế nhưng định nghĩa của Taylor về lao động là một dãy các thao tác cũng giải thích lý do tại sao ông gặp phải sự phản đối bởi những người mà bản thân họ không lao động chân tay: đó là hậu thế của các nhà thơ và nhà triết học cổ đại, các học giả, trí thức. Bởi vì Taylor đã phá bỏ tính lãng mạn của công việc, thay vì được coi là “kỹ năng cao quý” nay trở thành một chuỗi các động tác đơn giản.
Mặc dù vậy, bất kể phương pháp nào đã thành công ít nhiều trong một trăm năm qua trong việc nâng cao năng suất lao động chân tay và cùng với nó là mức lương tăng lên cho người lao động cũng đều dựa trên các nguyên tắc của Taylor, bất chấp những người chủ xướng co to tiếng nói rằng phương pháp của họ khác với phương pháp của Taylor. Tất cả các phương pháp như là “mở rộng công việc” “nâng cao chất lượng công việc” hay “luân phiên công việc” đều áp dụng các nguyên tắc của Taylor nhằm làm giảm bớt công sức lao động của công nhân và qua đó tăng năng suất lao động. Các nguyên tắc của Taylor về phân tích công đoạn làm việc và quy trình công nghiệp được mở rộng áp dụng vào quy trình lao động chân tay trong dây chuyền lắp ráp của Henry Ford (được phát triển sau năm 1914 khi mà Taylor đã nghỉ hưu do già cả và bệnh tật). Các nguyên tắc đó cũng được áp dụng cho các phương pháp quản lý của Nhật Bản như “chu trình chất lượng” (Quality Circle), “cải thiện chất lượng liên tục” (Continuous Improvement) và “giao nhận đúng lúc” (Just-In-Time Delivery).
Một ví dụ điển hình là phương pháp “Quản lý chất lượng toàn diện” của W.Edwards Deming (1900 – 1993). Điều làm cho phương pháp quản lý chất lượng của Deming đem lại hiệu quả chính là vì tác giả đã phân tích và tổ chức công việc theo đúng cách mà Taylor đã làm. Sau đó vào khoảng năm 1940 ông ta đã bổ sung thêm phương pháp kiểm tra chất lượng dựa vào lý thuyết thống kê mới được phát triển sau khi Taylor chết mười năm. Cuối cùng, vào những năm 1970, Deming đã sử dụng vô tuyến truyền hình mạch kín và sự mô phỏng trên máy vi tính để thay thế cho đồng hồ bấm giờ và máy chụp hình di động của Taylor. Thế nhưng các chuyên viên phân tích kiểm tra chất lượng của Deming thì làm việc chẳng khác gì các kỹ sư về hiệu quả công việc của Taylor cả, họ giống nhau như đúc.
Mặc dù Taylor còn có nhiều hạn chế và thiếu sót, nhưng không người Mỹ nào, kể cả Henry Ford (1863 – 1947), có nhiều ảnh hưởng như ông ta. “Quản lý theo khoa học” (và sau đó là “Quy trình công nghiệp”) là một triết lý Mỹ có ảnh hưởng rộng khắp trên thế giới, hơn cả Hiến pháp và các Luật liên bang Mỹ.
Trong thời kỳ Thế chiến thứ I, phương pháp Quản lý theo khoa học của Taylor, kết hợp với dây chuyền lắp ráp của Ford dựa trên cơ sở lý thuyết của Taylor, đã được phổ biến trên toàn nước Mỹ. Trong những năm 1920, phương pháp quản lý theo khoa học tràn qua Tây Âu và bắt đầu được áp dụng ở Nhật Bản.
Trong thời kỳ Thế chiến thứ II các thành tựu của Đức và Mỹ đều dựa trên cơ sở áp dụng các nguyên tắc của Taylor vào việc đào tạo. Bộ Tổng tham mưu Đức, sau thất bại trong Thế chiến thứ I, đã áp dụng nguyên tắc quản lý theo khoa học của Taylor dưới tên gọi “Sự hợp lý hóa” vào công việc của người lính và huấn luyện quân sự. Điều này đã giúp cho Hitler phát triển được một cỗ máy đánh nhau siêu hạng chỉ trong vòng sáu năm, kể từ năm lên cầm quyền cho đến năm 1939. Những nguyên tắc đó cũng được áp dụng tại Mỹ trong việc đào tạo đội ngũ công nhân công nghiệp, lúc đầu còn có tính thăm dò trong thời kỳ Thế chiến thứ I, sau đó được áp dụng đại trà trong Thế chiến thứ II. Điều đó đã giúp cho Mỹ vượt xa Đức về sản xuất công nghiệp, mặc dù tỷ lệ nam giới trong quân ngũ của Mỹ lớn hơn của Đức, nghĩa là lực lượng lao động công nghiệp của Mỹ ít hơn của Đức. Và nhờ được đào tạo theo phương pháp quản lý theo khoa học mà lực lượng lao động dân sự của Mỹ có năng suất lao động cao hơn lao động của Đức quốc xã ở Đức cũng như tại châu Âu do Đức chiếm đóng từ hai đến ba lần. Phương pháp quản lý theo khoa học còn giúp cho Mỹ vượt trội hơn cả Đức và Nhật trên mặt trận về nhiều phương diện.
Sự phát triển kinh tế thế giới ở bên ngoài phương Tây kể từ năm 1950 đến nay đều dựa trên cơ sở sao chép lại những điều mà Mỹ đã làm trong Thế chiến thứ II, đó là áp dụng phương pháp quản lý theo khoa học để tăng năng suất lao động chân tay. Toàn bộ sự phát triển kinh tế trước đó đều dựa trên cơ sở đổi mới công nghệ, đầu tiên là ở Pháp trong thế kỷ XVIII, sau đó ở Anh từ 1760 cho đến 1850 và cuối cùng tại các cường quốc kinh tế mới, đó là Đức và Mỹ vào nửa sau của thế kỷ XIX. Các nước nằm ngoài châu Âu phát triển kinh tế sau Thế chiến thứ II, đầu tiên là Nhật Bản đã tránh đi vào đổi mới công nghệ. Thay vào đó, các nước này du nhập phương pháp đào tạo nhân lực mà Mỹ đã phát triển từ thời Thế chiến thứ II dựa trên các nguyên tắc của Taylor và ứng dụng nó để trong một thời gian rất ngắn nâng cao năng suất lao động cho đội ngũ lao động của mình vẫn còn trong thời kỳ tiền công nghiệp có trình độ tay nghề thấp. (Chẳng hạn như Nhật Bản, vào năm 1950 có đến hai phần ba lực lượng lao động tại đây vẫn còn kiếm sống chủ yếu bằng nghề nông và các ngành nghề có trình độ thấp, trừ lĩnh vực trồng lúa). Thế nhưng, mặc dù có năng suất lao động cao, lực lượng lao động mới ở các nước đầu tiên là Nhật Bản, sau đó là Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore trong hàng thập kỷ vẫn chỉ được hưởng mức lương thời tiền công nghiệp. Do vậy, họ có thể làm ra cùng một loại sản phẩm như ở các nước phát triển nhưng với chi phí lao động chỉ bằng một phần các nước đó mà thôi.
Năng suất lao động chân tay trong tương lai
Cách tiếp cận của Taylor xuất phát từ lao động chân tay trong sản xuất công nghiệp và lúc ban đầu nó chỉ được áp dụng trong phạm vi đó mà thôi. Nhưng ngay trong giới hạn truyền thống đó thì phạm vi ảnh hưởng của nó cũng rất to lớn. Nó sẽ vẫn là nguyên tắc tổ chức tại các nước mà ở đó công việc lao động chân tay, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, đang là khu vực tăng trưởng chủ yếu trong nền kinh tế, đó là các nước thuộc “Thế giới thứ ba” nơi có lực lượng lao động trẻ nhưng trình độ văn hóa thấp và không có tay nghề vẫn còn tiếp tục tăng.
Như sẽ bàn đến ở phần sau, vẫn có một số lượng rất lớn công việc tri thức, kể cả công việc đòi hỏi những kiến thức rất cao và lý thuyết sâu rộng, nhưng lại bao gồm các thao tác bằng tay. Để nâng cao năng suất lao động trong các công việc này cũng đòi hỏi phải có quy trình công nghiệp.
Tuy nhiên, tại các nước phát triển thì thách thức chủ yếu không còn là vấn đề tăng năng suất lao động chân tay nữa, vì họ đã trải qua rồi. Thách thức chính hiện nay là vấn đề tăng năng suất cho lao động tri thức. Lao động tri thức đang nhanh chóng trở thành bộ phận lớn nhất của lực lượng lao động tại các nước phát triển. Lực lượng lao động này còn có thể chiếm tới hai phần năm toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ – còn tại các nước phát triển khác thì tỷ lệ này tuy có nhỏ hơn nhưng đang tăng dần lên rất nhanh chóng. Chính năng suất lao động của lực lượng lao động tri thức sẽ ngày càng trở thành yếu tố quyết định sự phồn vinh và sự tồn tại của nền kinh tế các nước phát triển trong tương lai.
(còn tiếp)
TH: T.Giang – SCDRC
Nguồn tham khảo: Peter F.Drucker – Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI – NXB Trẻ 2003.
 
HIỆN FOOTER