Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

No Comment
Năm 2010, bình quân mỗi tháng có gần 16.000 người đăng ký thất nghiệp, nhưng đến năm 2011 con số này đã là hơn 27.700 người, năm 2012 là hơn 40.000 người. Trong khi đó, quỹ bảo hiểm thất nghiệp lại đang ngập trong “nợ xấu” bởi các doanh nghiệp cũng đang phải sống mòn trong thua lỗ.
Thống kê từ các trung tâm giới thiệu việc làm cho thấy tính đến ngày 20/9, cả nước có hơn 1,3 triệu lượt người đăng ký thất nghiệp, bình quân mỗi tháng có hơn 114.000 người đăng ký thất nghiệp. Riêng năm 2013, số người đăng ký thất nghiệp đã tương đương hơn 93% của cả năm 2010, bằng 68,4% của cả năm 2011, gần bằng 53% của cả năm 2012.  Sở dĩ con số người thất nghiệp tăng vọt là do nhiều doanh nghiệp phá sản, đóng cửa, cắt giảm nhân sự, nhưng một phần không nhỏ là bởi giờ đây nhiều người mới biết được rằng nếu kê khai thất nghiệp sẽ được hưởng chế độ của bảo hiểm, vậy nên họ đã mách nhau đi đăng ký để được nhận tiền trợ cấp thất nghiệp.
 
Trong khi đó, bảo hiểm xã hội đang đau đầu với tình trạng nợ đóng bảo hiểm thất nghiệp ngày càng lớn. Tính đến tháng 8/2013, số nợ đóng BHTN đã lên đến hơn 600 tỷ đồng, trong đó phần hỗ trợ 1% từ ngân sách Nhà nước nợ gần 303 tỷ đồng. Khi bị đòi nợ các doanh nghiệp đều than khổ bởi hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn khi sức mua xuống thấp, hàng xuất khẩu giảm trong khi chi phí thì tăng cao, vốn lại eo hẹp…Vì vậy, các doanh nghiệp đều tìm cách thoái thác hoặc đình hoãn việc đóng bảo hiểm, thậm chí không ít đơn vị còn lách luật bằng cách “biến hóa” các hồ sơ, hợp đồng lao động, “tạo điều kiện” cho người lao động để giảm bớt gánh nặng trả lương giữa lúc làm ăn khốn khó mà ngân hàng thì hờ hững.
 
Tuy nhiên, nếu nhìn tận gốc vấn đề thì ngoài lý do kinh tế khó khăn,nạn thất nghiệp phổ biến còn bởi sự phân bố không hợp lý giữa các ngành nghề. Khi một nghề nào đó được xã hội “sính mốt”,lập tức các trường tuyển sinh ồ ạt cho ngành đó. Nhưng sau vài năm khi thị trường đã bão hòa dẫn đến khủng hoảng thừa, ví như trong vài năm qua là ngành ngoại ngữ, kinh tế, sư phạm, công nghệ.
 
Bên cạnh đó không thể không kể đến tâm lý coi trọng bằng cấp.Hầu như mọi học sinh tốt nghiệp trung học đều hướng đến cổng trường đại học, thậm chí không ít gia đình coi sự trượt đại học là một nỗi xỉ nhục. Bởi vậy, trong khi các trường đại học có tỷ lệ chọi cao chất ngất thì các trường nghề lại héo hon thí sinh. Điều này dẫn đến tình trạng “thừa thày thiếu thợ” kéo dài hàng chục năm qua. Thậm chí nhiều địa phương đã có những chính sách khuyến khích học sinh theo học tại trường nghề song cũng không đem lại hiệu quả. Ví như tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có chương trình hỗ trợ người thất nghiệp được học nghề, nhưng trong hai năm 2011, 2012, mỗi năm cũng chỉ có duy nhất 1 người đăng ký. Ngoài lý do người lao động không muốn thay đổi ngành nghề còn bởi sau khi học họ cũng khó có mức lương khả qua khi trình độ cũng chỉ dừng lại ở mức sơ cấp. Tình trạng này cũng diễn ra ở Bình Dương, Đồng Nai và một số thành phố khác.
 
Hiện nay, tại Việt Nam chưa có hệ thống thông tin thị trường lao động được kết nối đồng bộ để có thể bao quát được cung - cầu, nên việc cập nhật thông tin việc làm và lao động còn nhiều hạn chế. Để có thể cải thiện tình hình này thì cần những giải pháp dài hơi cả trong việc “nâng đỡ” nền kinh tế lẫn quy hoạch giáo dục, cũng như nâng cao chất lượng đào tạo. Bên cạnh đó là lồng ghép các chương trình mục tiêu về việc làm với các chương trình, dự án khác nhằm nâng cao chất lượng cung, điều chỉnh cung lao động phù hợp cầu lao động, đẩy mạnh kết nối cung - cầu và trực tiếp làm tăng quy mô việc làm hay gián tiếp tạo ra việc làm mới. Nếu không có sự điều chỉnh kịp thời, khi thất nghiệp trở thành “mốt” thì kinh tế Việt Nam khó có thể đứng vững trong cơn xoáy suy thoái đang ngày một đến gần.
 
 
 
HIỆN FOOTER