Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

No Comment
1/ Lịch sử
Vilfredo Pareto sinh ngày 15 tháng 7 năm 1848, mang hai dòng máu Pháp – Ý với cha là người Genoe và mẹ là người Pháp. Quá trình học vấn của Vilfredo diễn ra ở cả Pháp và Ý. Ông nổi tiếng là một trong những nhà lý luận đã phát triển ngành kinh tế vi mô qua việc sử dụng các công cụ như các đường bàng quang.
Joseph Juran sinh ngày 24/12/1904, Joseph Juran nổi tiếng là một bậc thầy nghiên cứu về chất lượng ngành công nghiệp và về kinh doanh. Tiến sĩ Joseph Moses Juran là một kỹ sư công nghiệp và là một nhà bác ái, ông đã có những đóng góp đáng kể trong học thuyết về phong cách quản lý, quản lý nguồn nhân lực và tư vấn. Ông đã viết một vài quyển sách, và nổi tiếng khắp thế giới là một trong những nhà tư tưởng về quản trị chất lượng quan trọng nhất của thế kỷ 20.
Sự đóng góp cho nền kinh tế vi mô
Là một nhà kinh tế học, Pareto đã có những đóng góp quan trọng trong ngành kinh tế học, xã hội học, đặc biệt là trong học thuyết về phân phối thu nhập và trong các phân tích về sự chọn lựa cá nhân. Ông đã tạo ra bảng chỉ số Pareto, đây là thước đo thể hiện sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.
Nguyên tắc Pareto
Theo một bản tóm tắt, nội dung cơ bản của nguyên tắc Pareto là năm 1906, ông đã lập ra một bảng quan sát nổi tiếng cho thấy rằng 20% dân số Ý đang sở hữu 80% tài sản của nước này. Sau đó, Joseph M.Juran và những người khác đã khái quát lại điều này và gọi là Nguyên tắc Pareto (cũng được gọi là Nguyên tắc 80 – 20), và tổng quát xa hơn thành khái niệm sự phân phối Pareto. Trong cuốn Trattato di Sociologia Generale (Luận án về tổng quan xã hội học) mà ông giới thiệu lần đầu tiên ở Anh với tựa đề Trí tuệ và xã hội, ông đã đặt ra học thuyết chu kỳ mang tính xã hội đầu tiên trong ngành xã hội học.
Sự đóng góp về chất lượng và quản trị
Sau Thế chiến thứ hai, Nhật Bản đã rơi vào cuộc khủng hoảng về chất lượng sản phẩm. Hàng hóa của Nhật bị coi là rẻ mạt, dễ hư hỏng và hầu hết là chất lượng rất kém. Liên đoàn các nhà khoa học và kỹ sư Nhật (JUSE) đã thấy được những vấn đề này và năm 1954, họ đã mời Juran đến Nhật. Juran làm việc độc lập với W.Edwards Deming, người chuyên về kiểm soát chất lượng thống kê, còn Juran là người chuyên về quản trị chất lượng. Khi đến Nhật năm 1954, Juran mở những khóa học về quản trị chất lượng, đây là một phần đóng góp của ông cho học thuyết “Quản trị chất lượng toàn bộ”. Mục tiêu của ông là đào tạo quản lý cấp cao và trung cấp. Ở Mỹ, ý tưởng đào tạo quản lý cấp cao và trung cấp bị phản đối kịch liệt còn ở Nhật, ông đã mất hơn 20 năm cho quá trình đào tạo này. Vào thập nhiên 70, sản phẩm của Nhật bắt đầu được coi là hàng đầu về chất lượng và đến thập niên 80, nó đã gây ra một cuộc khủng hoảng về chất lượng tại Mỹ.
Khi Juran bắt đầu khởi nghiệp vào thập niên 20, nguyên tắc tập trung vào quản trị chất lượng của ông là dựa trên sự đánh giá về chất lượng sản phẩm được sản xuất. Ông đã sử dụng những công cụ như hệ thống Bell của những bản đánh giá mẫu, đồ thị kiểm soát Shwehart và ý tưởng phổ biến nhất của Frederick Winslow Taylor. Juran đã thêm yếu tố con người vào chất lượng, điều đó giải thích tại sao ông đẩy mạnh công cuộc giáo dục và đào tạo những nhà quản lý. Đối với Juran, những vấn đề trong quan hệ giữa người với người là những vấn đề bị cô lập. Sự phản kháng để thay đổi theo cách nghĩ của Juran là phản kháng văn hóa chính là nguyên nhân gốc rễ của những vấn đề về chất lượng.
Năm 1966, Juran đã đề xướng ý tưởng về Chu trình chất lượng cho nước Nhật và phát triển bộ ba tác phẩm của ông về cách tiếp cận quá trình quản lý đa chức năng. Bộ ba tác phẩm này dựa trên ba tiến trình quản lý: lập kế hoạch, quản lý và cải thiện. Năm 1979, ông sáng lập Học viện Juran.
Khám phá nguyên tắc Pareto
Năm 1941, Juran đã khám phá ra công trình của Vilfredo Pareto. Juran đã mở rộng nguyên tắc Pareto đối với những vấn đề chất lượng (ví dụ như 80% của một vấn đề được gây ra chỉ bởi 20% các nguyên nhân). Nguyên lý Pareto cũng được xem là mối quan hệ giữa số ít thiết yếu và số đông hữu ích.
NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ CHUNG
Phát triển tri thức
Đây được coi là thời kỳ khai sáng khi nhiều nhà lý luận lớn đã đưa ra những lý thuyết mang tính cách mạng và chúng vẫn còn ảnh hưởng đến cuộc sống chúng ta ngày nay. Ví dụ như ngày nay, chúng ta vẫn đánh giá cao và ứng dụng những Học thuyết xã hội của Max Weber. Theo từ điển Bách khoa toàn thư: “Ông được đánh giá là một trong những nhà sáng lập nhánh nghiên cứu xã hội hiện đại, chống thực chứng và nghiên cứu về Quản trị công. Những công trình chủ yếu của ông là giải quyết vấn đề hợp lý hóa giữa tôn giáo xã hội học và chính quyền, và ông cũng viết nhiều trong lĩnh vực kinh tế”.
Một nhà lý luận vĩ đại khác của giai đoạn này là Albert Einstein. Ông là tác giả của Thuyết tương đối và đã đóng góp quan trọng cho thuyết tương đối đặc biệt, lý thuyết về lượng tử, lý thuyết thống kê và vũ trụ học.
Sự thoái trào
Lịch sử đã cho thấy, thời kỳ này đã diễn ra hai cuộc chiến tranh lớn: Thế chiến thứ nhất (1914 – 1918), và Thế chiến thứ hai (1940 – 1945). Những giai đoạn chiến tranh là những giai đoạn mà phát triển tri thức bị giảm tốc độ, khi mọi nguồn lực chỉ để phục vụ cho sự sống còn hơn là để phát triển nhân loại.
Phát triển công nghệ
Trong suốt giai đoạn này, có rất nhiều phát minh liên quan đến sự phát triển của nhân loại và côn gnghệ như năm 1930, phát hiện ra sao Diêm Vương. Đây là thời kỳ nhân loại cố vươn ra tìm kiếm những hành tinh mới nhằm định vị được chúng ta trong vũ trụ. Năm 1941, phát minh máy tính điện tử. Đây là một trong những bước tiến vĩ đại của công nghệ, vì lý do đó ngày nay chúng ta bị phụ thuộc mạnh mẽ vào máy tính và những máy móc khác để nâng cao chất lượng cuộc sống.
Những kết quả
Nhìn chung, chúng ta có thể nói rằng tất cả những sự phát triển này là những bước tiến quan trọng cho những gì chúng ta có ngày nay. Chúng ta cũng có thể nói rằng hiện nay chúng ta chấp nhận rộng rãi hơn đối với những lý thuyết “mềm” hơn cũng như những áp dụng của nó vào chiến lược hợp tác và quản trị toàn cầu.
Lẽ đương nhiên, trong giai đoạn này, không hẳn tất cả đều chấp những những “lý thuyết mềm”. Điều này giải thích vì sao bài viết này nói về hai tác giả đằng sau học thuyết trên. Một người sáng tạo ra nó còn người kia thì phổ biến nó tới công chúng.
Cuộc đời Pareto
Năm 1870, Vilfredo Pareto nhận bằng kỹ sư của Đại học Bách khoa Turin. Ông khởi nghiệp trong ngành đường sắt của Ý. Đến năm 1873, ông chuyển sang ngành công nghiệp sắt ở quê nhà. Năm 1886, ông trở thành giảng viên kinh tế và quản trị tại Đại học Florence. Năm 1893, ông được chỉ định làm giảng viên kinh tế tại Đại học Lausanne ở Thụy Sĩ, và nơi đây, ông đã theo đuổi công việc giảng dạy cho đến cuối đời. Năm 1906, ông phát minh ra nguyên tắc Pareto khi đang làm giáo sư ở Thụy Sĩ. Năm 1923, 17 năm sau đó, ông qua đời.
Năm 1924, Joseph Moses Juran tốt nghiệp kỹ sư điện, sau đó ông lấy thêm bằng luật. Sau khi tốt nghiệp, Juran gia nhập vào Western Electric và làm việc tại nhà máy sản xuất Hawthorne tại Mỹ. Vị trí đầu tiên của ông là thanh tra chi nhánh. Năm 1928, ông được đề cử vào vị trí quản lý và sau này trở thành trưởng chi nhánh. Năm 1935, ông giới thiệu rộng rãi bài báo đầu tiên của mình về chất lượng kỹ thuật cơ khí. Năm 1937, ông chuyển đến làm việc tại tổng hành dinh của Western Electric/AT&T tại New York. Năm 1941, ông phát hiện ra Nguyên tắc Pareto và áp dụng nó một cách khôn ngoan về một lý thuyết liên quan đến số ít sống còn và số đông không cần thiết. Năm 1966, ông viết cuốn sách The Quality Cycles(Chu trình quản lý chất lượng). Năm 1979, ông sáng lập Học viện Juran, nơi khuyến khích nghiên cứu và phát triển tri thức.
Chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, trong giai đoạn này hai tư tưởng lớn dường như đã g8ạp nhau những tác giả của chúng thì không bao giờ có cơ hội gặp nhau.
(còn tiếp) 
Nguồn tham khảo: Koeanraad Tommissen – Tư vấn quản lý, một quan điểm mới – NXB TH TPHCM 2008.
 
HIỆN FOOTER