Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

No Comment
NGUYÊN TẮC PARETO
Nền tảng
Nguyên tắc này do nhà nghiên cứu quản trị Joseph M.Juran đưa ra. Sau đó được đặt theo tên của nhà kinh tế học Vilfredo Pareto.
Học thuyết Vilfredo Pareto
Pareto quan sát thấy rằng 20% dân số nước Ý sở hữu 80% tài sản của nước này.
Ông cho rằng, đối với nhiều hiện tượng 80% của kết quả có nguồn gốc từ 20% của nguyên nhân.
Sự giả định của hầu hết kết quả trong mọi tình huống đều do số ít của những nguyên nhân quyết định. Nếu xem như là một ý kiến có khả năng kiểm nghiệm được (hầu như khi kiểm nghiệm là đúng) nó sẽ hữu ích cho việc hoạch định chính sách.
Sự diễn giải của Joseph Juran
Từ khi Joseph Juran kế tục ý tưởng này thì nó có vẻ khả thi hơn khi tham khảo như một sự giả định của Juran. Ông đã chỉ ra lý thuyết số ít sống còn với số đông không cần thiết và đã khẳng định rằng kết quả trong bất kỳ trường hợp nào cũng đều do số ít của những nguyên nhân quyết định. Ví dụ: sự phân phối kích thước dữ liệu của một tập tin khi dịch chuyển trên internet sử dụng giao thức TCP. Có nhiều file nhỏ hơn và ít file lớn hơn đã được chuyển dịch. Một ví dụ khác có thể đề cập đến là trữ lượng dầu trong các mỏ dầu – có rất ít những mỏ dầu trữ lượng lớn, nhưng lại có rất nhiều những mỏ dầu có trữ lượng nhỏ.
Các đường bàng quang: là một đồ thị cho thấy một sự kết hợp hàng hóa không được khách hàng ưa chuộng, nghĩa là vị khách hàng này không ưu tiên cho sự kết hợp nào khác. Các đường bàng quang là một công cụ thể hiện sự ưu tiên của khách hàng trên các loại hàng hóa và được sử dụng trong lý thuyết về sự lựa chọn.
Chỉ số Pareto: Trong kinh tế, chỉ số Pareto được đặt theo tên của nhà kinh tế và xã hội học Vilfredo Pareto, nó là một thước đo bề rộng của sự phân phối thu nhập. Nó là một trong những thông số chỉ rõ sự phân phối của Pareto và thể hiện nguyên tắc Pareto chính là sự quan sát thấy 20% dân số nước Ý sở hữu 80% tài sản nước này. Một trong những đặc trưng cơ bản nhất của sự phân phối Pareto là đã từng cải tiến việc phân phối tài sản của họ trội hơn bất kỳ con số phản ngược nào x > xm, với xm là tài sản của những người nghèo nhất (sự đóng góp là rất ít). Chỉ số Pareto là một biến số anpha. Chỉ số Pareto lớn hay nhỏ hơn tỉ lệ của rất nhiều người giàu có.
Hệ số phân phối Pareto: được đặt theo tên của nhà kinh tế học Vilfredo Pareto, đây là một đạo luật phân phối mạnh đã tìm ra rất nhiều những trường hợp thật sự trên thế giới. Bên cạnh đó, trong thời điểm này, kinh tế đã nghiêng về sự phân phối của Bradford.
2/ Nguyên tắc Pareto là gì?
Phân phối Pareto
Trong phần này, chúng ta sẽ cùng bàn đến Luật Phân bố theo xác suất. Phân phối Pareto là một điển hình cho Luật Phân bố theo xác suất, và điều này đã được thực tế kiểm nghiệm. Ngoài lĩnh vực kinh tế học, đôi khi người ta gọi phân phối Pareto là phân phối Bradford. Đầu tiên Pareto dùng cách phân phối này để mô tả sự phân phối tài sản giữa các cá nhân, vì các nghiên cứu của ông trước đó cho thấy là phần lớn của tài sản một đất nước thuộc sở hữu của phần ít người dân của đất nước đó.
Để hiệu rõ hơn về điều này, chúng ta cùng quan sát đồ thị Hàm mật độ xác suất dưới đây. Đồ thị này cho thấy “xác suất” dân số f(x) sở hữu một số lượng nhỏ tài sản theo đầu người (x) thì khá cao, và sau đó đều đặn giảm khi tài sản tăng. Cách phân phối này có thể dùng mô tả sự phân phối thu nhập hay tài sản, nhưng trong nhiều trường hợp khi đã đạt tới sự cân bằng trong cách phân phối của “số ít” và “số nhiều”, thì sự phân phối này bị giới hạn.
IMG_0886
Đồ thị Pareto
Đây là một kỹ thuật để nhận định những vấn đề về chất lượng dựa theo mức độ quan trọng của nó. Đồ thị này chỉ ra rằng chỉ có một vài vấn đề về chất lượng là quan trọng trong khi có rất nhiều vấn đề khác không quan trọng.
Trong quản trị chất lượng, vấn đề đằng sau Nguyên tắc Pareto là hầu hết những vấn đề về chất lượng là kết quả của chỉ một vài nguyên nhân. Mục tiêu của đồ thị này là nhận định về những nguyên nhân đó. Một phương pháp sử dụng kiểu phân tích Pareto là tạo ra một đồ thị sắp xếp những nguyên nhân của chất lượng kém theo thứ tự giảm dần dựa trên tỉ lệ phần trăm từng khiếm khuyết.
Kết luận
Để hiểu được Nguyên tắc Pareto, chúng ta phải xem xét nó một cách triệt để. Trong đó, điều cốt lõi là phải xác định được ông là một nhà kinh tế vi mô và từ quan điểm này, ông đã tìm ra nguyên tắc này, cũng được gọi là Nguyên tắc 80 – 20. Là ông tổ về nghiên cứu chất lượng, ông đã khám phá ra lý thuyết này và áp dụng nó ngay vào thời điểm của ông để đưa đến cho chúng ta một học thuyết về quan hệ giữa số ít sống còn và số đông không cần thiết.
Dưới cái nhìn của những nhà phê bình thì nguyên tắc này rất dễ bị hiểu lầm như một khái niệm đơn giản và không đủ sức thu hút sự chú ý của mọi người. Do đó, chúng ta cần đến đồ thị Pareto như một công cụ hữu ích nhất giúp tập trung vào những yếu tố đích xác để thấy được toàn cảnh của bức tranh. Sự thách thức ở đây là phải tìm ra những quá trình chính xác. Ví dụ, chúng ta có thể phát triển một đồ thị sắp xếp những nguyên nhân của chất lượng kém theo thứ tự giảm dần dựa trên tỉ lệ phần trăm từng khiếm khuyết. Trong trường hợp này, có thể tiến hành kiểm định dựa trên số lượng những khiếm khuyết xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau. Từ đó, rút ra một tỉ lệ của những khuyết điểm (có thể tính toán được khi tiến hành kiểm định) và nhập vào biểu đồ Pareto. Trên tổng thể, đây là khuynh hướng tìm ra vài nguyên nhân giải thích cho hầu hết những khiếm khuyết.
Chúng ta cần ghi nhớ những lợi ích của thuyết này vì nó giúp xác định những việc ưu tiên. Hơn nữa, thuyết này có thể dễ dàng thực hiện và phù hợp trong mọi hoàn cảnh, tóm lại:
  1. Các công việc ưu tiên
  2. Nhắc nhở nhà quản lý tập trung vào 20% vấn đề thực sự
  3. Là một lý thuyết về số ít sống còn và số đông không cần thiết rất đơn giản và dễ thực hiện.
 
HIỆN FOOTER