Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

No Comment
1/ Bảy thói quen của người thành đạt là gì?
a) Về cuốn sách
Cuốn sách “Bảy thói quen của người thành đạt” do Simon & Schuter xuất bản lần đầu tiên năm 1989, và từ đó trở thành cuốn sách bán chạy nhất với hơn 15 triệu bản được dịch ra 38 thứ tiếng. Một trong những lý do làm cho cuốn sách hấp dẫn nhiều bạn đọc đến vậy là vì nó được viết bằng văn phong không mang tính hàn lâm mà dễ nắm bắt. Thêm vào đó, đây không phải là cuốn sách về quản trị mà là cuốn sách dựa trên thực tế. Cuốn sách này sẽ trở thành “người bạn đồng hành trong cuộc sống” cho những ai muốn tìm hiểu làm thế nào để trở thành một người thành đạt, và cho những ai muốn tận hưởng một cuộc sống cân bằng và hiệu quả. Xin nói rõ thêm, thành đạt ở đây ứng dụng cho mọi lĩnh vực trong cuộc sống: gia đình, công việc, xã hội, tôn giáo… Năm 2002, tạp chí Forbes đã bình chọn cuốn sách này là một trong mười cuốn sách gây ảnh hưởng nhất mọi thời đại.
b) Về tác giả
Stephen R.Covey tác giả cuốn “Bảy thói quen của người thành đạt”, sinh ngày 24 tháng 10 năm 1932 ở thành phố Salt Lake, Utah. Ông là người sáng lập Covey Leadership Center (Trung tâm đào tạo về các kỹ năng lãnh đạo của Covey ở Utah). Ông là thành viên của tập đàon Franklin-Covey, chuyên đào tạo kế hoạch viên và tổ chức viên, ngoài ra còn tham gia tư vấn về thực hành quản lý (thời gian) với phương pháp lấy nguyên tắc làm trung tâm cho giới lãnh đạo và quản lý. Covey lấy bằng cử nhân khoa học (BSc) ngành quản trị kinh doanh tại Đại học Utah ở thành phố Salt Lake; lấy bằng Cử nhân ngành Quản trị kinh doanh (MBA) tại Đại học Harvard; bằng Tiến sĩ Lịch sử Giáo hội (DRE) và bằng Tiến sĩ của Đại học Brigham Young. Ông dành phần lớn thời gian sự nghiệp làm giáo sư giảng dạy về hành vi của tổ chức và quản trị kinh doanh tại Đại học Brigham. Ông đã nhận được huy chương do Thomas More College trao tặng vì sự nghiệp phục vụ không ngừng nghỉ cho nhân loại và bốn bằng tiến sĩ danh dự khác.
Covey đã cho ra đời những ấn bản tiếp theo trong chuỗi sách về bảy thói quen. Tất cả những ấn bản này nhằm hoặc bổ trợ cho cuốn sách này, hoặc tạo nên tư duy liền mạch về nghệ thuật lãnh đạo dựa trên các nguyên tắc hoặc dựa trên cá nhân.
Mục đích của cuốn sách là giúp cho mọi người có được thành công trong cuộc sống, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh và quản trị. Tuy vậy, cuốn sách này cũng nhấn mạnh đến việc làm chủ gia đình hay làm chủ bản thân.
Theo Covey, bảy thói quen này không dựa trên cách suy nghĩ thông thường. Ông không nhận mình là người khởi xướng cho các ý tưởng này mà đơn giản chỉ là tìm ra một khung sườn và cách diễn đạt những nguyên tắc bất biến đã gắn chặt vào bảy thói quen này. Ông cho rằng các thể tìm thấy các nguyên tắc này trong tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới. Ông tin rằng tự bản thân những nguyên tắc này đã quá rõ nên thực sự là không thể phản biện lại chúng. Theo quan điểm của ông, tất cả cá nhân thành đạt và các tổ chức hoạt động hiệu quả trong một thời gian dài đều đã ứng dụng các thói quen này để duy trì thành công, chỉ khác nhau ở phạm vi mở rộng hay thu hẹp mà thôi.
Covey cho rằng các thói quen này chỉ là “tri thức thông thường” (nhưng cũng cho biết nó không phải là thói quen thông thường tất yếu ai cũng có sẵn). Trên thực tế, chúng ta có thể nhận thấy các thói quen này đi ngược lại bản chất tự nhiên cơ bản của con người. Theo đúng bản chất vốn có, con người là những sinh vật biết phản ứng lại và có chiều hướng hành động chủ yếu vì tư lợi. Nhưng cũng bởi là con người, chúng ta có những suy nghĩ và hành động ở cấp bậc cao và nếu biết cố gắng thường xuyên tiếp nhận bảy thói quen này, chúng ta có thể phát triển thái độ tích cực chủ động. Nhờ thế, chúng ta có thể tự chịu trách nhiệm về số phận của mình và tận dụng ảnh hưởng của mình lên người khác để đem lại nguồn lợi chung.
Giới phê bình cho rằng phương pháp của Covey đưa ra “một giải pháp nhanh” nhưng ít xuất hiện khi phải vật lộn với thực tại trong đời sống thường ngày. Khi con người phải đối mặt với tình huống phát sinh những nhân tố ngoài tầm kiểm soát, họ có thể thất vọng vì các thói quen này không có hiệu quả để đưa những nhân tố đó vào tầm kiểm soát, hay dùng đúng từ của Covey, là đưa vào vùng ảnh hưởng của bản thân họ. Tóm lại, đôi khi có những ý kiến cho rằng phương pháp của Covey mang tính lý tưởng hóa và thiếu thực tế.
Cuối thập niên 80 và các nghiên cứu về quản trị
Về vấn đề quản trị, cuối thập niên 80 là quãng thời gian các nhà khoa học và các tác giả tập trung vào những vấn đề gọi là Nhóm chất lượng và kỹ thuật Quản trị thông qua Hành động như Quản trị chất lượng tổng thể, Nâng cao chất lượng liên tục và Nâng cao tiến trình liên tục.
2/ Con đường dẫn đến sự tương hỗ
Hình 1 minh họa cho mục đích cơ bản của Covey. Một người phụ thuộc có thể trở thành một người biết tương hỗ với người khác nếu biết cách sống và áp dụng theo bảy thói quen. Các thói quen 1, 2 và 3 tập trung chủ yếu vào bản thân. Áp dụng các thói quen này giúp bạn đạt được “chiến thắng cá nhân”, mang lại cho bạn cảm giác độc lập. Đây là cấp độ cơ bản chuẩn bị cho thử thách tiếp theo, gọi là “chiến thắng tập thể”, trong đó nhấn mạnh các mối quan hệ giữa một cá nhân với những người khác. Áp dụng các thói quen 4, 5, 6 sẽ mang lại cho bạn chiến thắng tập thể. Để duy trì ở cấp độ cao nhất trong khung cơ cấu của Covey, cá nhân cần rèn luyện và phát triển các kỹ năng của mình, điều này được giải thích ở thói quen thứ 7 trong khung cơ cấu.
IMG_1191
Sự cân bằng giữa sản phẩm và Năng suất
Covey dùng ngụ ngôn “Con ngỗng và Quả trứng vàng” để minh họa cho mô hình Sự cân bằng giữa Sản phẩm và Năng suất. Ngụ ngôn kể về một người nông dân nghèo ngẫu nhiên tìm thấy một quả trứng vàng trong giỏ trứng của mình. Trong suốt những ngày, những tuần và những tháng sau đó, người nông dân lại tiếp tục tìm thấy quả trứng vàng. Chẳng mấy chốc, anh ta trở nên giàu có nhưng cũng từ đó, trong lòng anh ta nổi lên tính tham lam. Thế là một ngày anh quyết định giết con ngỗng để lấy tất cả trứng vàng của nó. Kết quả, anh không tìm thấy quả trứng vàng nào cả và dĩ nhiên, viễn vọng về một tương lai giàu có của anh cũng tiêu tan.
Trong ngụ ngôn trên, quả trứng đại diện cho Sản phẩm, con ngỗng đại diện cho Năng suất. Covey diễn giải rằng điều quan trọng là phải biết “đối xử tốt” với Năng suất (con ngỗng) để có được Sản phẩm như mong muốn (quả trứng vàng vào mỗi buổi sáng). Từ đó, Covey liên hệ đến mỗi quan hệ cá nhân và cuộc sống kinh doanh của chúng ta. Chìa khóa của tính hiệu quả là sự cân bằng. Và điều này được Covey gọi là Sự cân bằng giữa Sản phẩm và Năng suất.
3/ Chiến thắng cá nhân: Từ phụ thuộc đến độc lập
Thói quen thứ nhất: Thái độ sống tích cực, luôn chủ động
Tích cực chủ động và tấm gương xã hội của chúng ta
Tích cực chủ động nghĩa là trong cuộc sống bình thường, chúng ta đều phải tự chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình. Ở đây, tôi nói đến cuộc sống bình thường vì trong một số trường hợp, có những người bị lấy mất trách nhiệm này hoặc bị trao cho người khác.
Covey phân biệt rõ giữa thái độ bị động (chỉ phản ứng trở lại khi gặp chuyện gì) và thái độ chủ động. Người có thái độ bị động bị cảm xúc, hoàn cảnh, điều kiện môi trường điều khiển; còn người có thái độ chủ động thì bị các giá trị chi phối.
Trong cuốn sách của mình, Covey có nhắc đến nhà tâm lý học người Áo Viktor Emil Frankl (1905 – 1997), ông là người theo học thuyết của Sigmund Freud (1856 – 1939) (bậc thầy nổi tiếng trong ngành phân tích tâm lý), và là người sống sót của một trại tập trung trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ông đã nhận ra rằng “con người được tùy chọn giữa khích lệ và trả lời”. Dù sự quan sát cuộc sống của Frankl bị giới hạn trong suốt thời gian ở trại tập trung, nhưng phát xít Đức không thể lấy đi trí tưởng tượng của ông (khả năng sáng tạo ra điều gì trong đầu vượt xa cuộc sống thực tại); không thể lấy đi lương tâm ông (tự nhận thức xem việc đó đúng hay sai) và cũng không thể lấy đi ý chí độc lập của ông (có thể hành động dựa trên sự tự nhận thức).
Thêm vào đó, Covey đề cập đến việc một người phải vượt qua cảm giác về số phận định sẵn của mình, đó là về thuyết tiền định do di truyền (những đặc tính và chiều hướng bản thân bạn được thừa hưởng ảnh hưởng đến số phận của bạn); thuyết tiền định do tâm lý (những điều bạn đã trải qua trong thời thơ ấu và lúc trưởng thành ảnh hưởng đến số phận của bạn); hay thuyết tiền định do môi trường (các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến số phận bạn). Ông gọi những điều này là “tấm gương xã hội”.
Có thái độ tích cực chủ động có nghĩa là tự mình làm trước, tự chủ động. Tuy vậy điều này không đồng nghĩa với việc tự đề cao mình, ba hoa, đáng ghét hay gây sự. Người có thái độ tích cực phải có trách nhiệm với mọi việc.
Vòng lo lắng và Vòng ảnh hưởng
Khi một người buộc phải trả lời câu hỏi “Bạn tập trung thời gian và sức lực vào đâu?” thì người này sẽ đưa ra câu trả lời làm thỏa mãn sự lo lắng của mình. Covey ám chỉ đến kết quả có thể như Vòng lo lắng của mỗi cá nhân. Một phần của Vòng lo lắng là Vòng ảnh hưởng. Chúng ta cùng xem hình minh họa sau đây:
IMG_1192
Từ hình trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa hai vòng trên. Nếu chúng ta có thể làm được và kiểm soát được việc gì đó thì nó thuộc Vòng ảnh hưởng. Nếu chúng ta không thể làm được việc gì đó thì nó thuộc Vòng lo lắng. Ví dụ, bệnh cúm gia cầm làm mọi người đều lo lắng dù chúng ta không thể làm được gì nhiều để kiểm soát nó. Nhưng, nếu người hàng xóm đánh vợ thì chúng ta có thể làm được điều gì đó (như can ngăn chẳng hạn).Người tích cực chủ động tập trung nỗ lực của mình vào Vòng ảnh hưởng. Người phản ứng lại tập trung nỗ lực của mình vào Vòng lo lắng. Việc thay đổi các thói quen, thay đổi các phương pháp gây ảnh hưởng và thay đổi cách chúng ta nhìn nhận những vấn đề không thể kiểm soát được,… tất cả thuộc Vòng ảnh hưởng. Trọng tâm của Vòng ảnh hưởng là khả năng thực hiện và kiểm soát được việc gì đó. Covey đưa ra đề nghị là chúng ta hãy học cách mở rộng Vòng ảnh hưởng bằng cách hành động và cư xử theo hướng tích cực.
Thói quen thứ 2: Bắt đầu bằng mục tiêu tương lai
Mọi sự vật đều được sáng tạo hai lần
Mọi sự vật đều được con người sáng tạo hai lần. Thứ nhất là sáng tạo tinh thần và thứ hai là sáng tạo vật chất. Covey cho rằng bắt đầu từ mục tiêu được xác định nghĩa là lấy hình tượng, hình ảnh hay mô thức của cuộc đời bạn làm khung tham chiếu hay chuẩn mực để đánh giá mọi thứ. Chúng ta có thể rất bận rộn, làm việc rất tốt nhưng chỉ có thể đạt được hiệu quả khi bắt đầu bằng mục tiêu rõ ràng.
Luôn có sự sáng tạo lần thứ nhất cho mỗi khía cạnh trong cuộc đời chúng ta. Tự chúng ta sáng tạo lần thứ hai để trở thành một con người đích thực, hoặc là sản phẩm sáng tạo lần thứ hai của người khác, của hoàn cảnh hay của thói quen quá khứ. Điều này làm liên hệ tới Thói quen thứ nhất: Luôn chủ động.
Lãnh đạo và quản lý
Thói quen thứ hai dựa vào những nguyên tắc lãnh đạo bản thân, tức lãnh đạo là sáng tạo lần thứ nhất, còn quản lý là sáng tạo lần thứ ahi. Covey chỉ ra rằng: “Quản lý là làm đúng công việc, còn lãnh đạo là làm những việc đúng”. Theo thói quen thứ hai này, con người không nên lao vào quản lý bản thân sao cho có hiệu quả mà nên bắt đầu bằng những việc xác định rõ những giá trị của mình và đặt ra các mục tiêu phấn đấu. Covey gọi hành động này là viết kịch bản cho cuộc đời.
Công cụ cho thói quen thứ 2: Tuyên ngôn sứ mệnh cá nhân
Cách hiệu quả nhất để bắt đầu từ mục tiêu được xác định là tạo ra một tuyên ngôn sứ mệnh cá nhân. Chìa khóa dẫn tới khả năng tạo ra sự thay đổi là nhận thức trước sau như một rằng bạn là ai, bạn muốn làm gì, và bạn coi trọng điều gì. Một khi nhận thức được sứ mệnh của mình, bạn sẽ có được nền tảng của tính chủ động cũng như tầm nhìn và những giá trị dẫn dắt cuộc đời bạn và phương hướng cơ bản để từ đó đặt ra các mục tiêu cho mình.
Trọng tâm của cuộc sống
Bất cứ điều gì tại trọng tâm của cuộc sống đều là nguồn gốc của sự an toàn, định hướng, khôn ngoan và năng lực của chúng ta. Covey đề cập tới các trọng tâm khác nhau có thể và là một trong những phần cấu tạo nên trọng tâm của cuộc sống, ví dụ:
  • Trọng tâm hôn nhân.
  • Trọng tâm gia đình.
  • Trọng tâm tiền bạc.
  • Trọng tâm công việc.
  • Trọng tâm tài sản.
  • Trọng tâm thú tiêu khiển.
  • Trọng tâm bạn/thù.
  • Trọng tâm tôn giáo.
  • Trọng tâm hướng về bản thân.
Trọng tâm hướng về nguyên tắc
Covey coi trọng tâm hướng về nguyên tắc là trọng tâm đúng đắn. Chúng ta cần định hướng cuộc sống mình dựa trên các nguyên tắc đúng đắn – những chân lý cơ bản và sâu sa, những sự thật hiển nhiên tồn tại bao đời, và những mẫu số chung của mọi thứ. Là người lấy nguyên tắc làm trọng tâm, bạn phải cố gắng tách mình ra khỏi những cảm xúc do hoàn cảnh và các nhân tố khác mang lại để đánh giá các phương án khác nhau trong cuộc sống.
(còn tiếp) 
TH: T.Giang – SCDRC
Nguồn tham khảo: Koenraad Tommissen – Tư vấn quản lý, một quan điểm mới – NXB TH TPHCM 2008.
 
HIỆN FOOTER